Chi tiết tin

[ - ] Text [ + ]
Tags:

Khó hạn chế ngân hàng lách trần tăng trưởng tín dụng

Năm 2011, trong khi hạn mức tăng trưởng tín dụng dưới 20% thì mức lãi suất cho vay bình quân thực tế hiện nay cũng khoảng 20%/năm. Giả sử toàn bộ các khoản vay đến cuối năm 2010 được cố định nợ gốc, và các tổ chức tín dụng (TCTD) phải giải ngân mới để khách hàng trả nợ lãi (do lãi suất quá cao mà khách hàng không có khả năng thanh toán) thì số tiền lãi này sẽ gần bằng chính hạn mức tăng trưởng tín dụng, khi đó chỉ một số lượng rất nhỏ tín dụng mới được đưa thêm vào nền kinh tế.

Qua trao đổi với một số ngân hàng về tình trạng đảo nợ, câu trả lời gần như thống nhất với nhau là: “Thời điểm này mà ngân hàng không đảo nợ mới là chuyện lạ”! Do đó, có thể nói rằng một phần dư nợ tăng thêm của năm nay chính là để trả lãi, điều đó khiến hạn mức 20% tăng trưởng càng trở nên hạn hẹp.

Vì vậy, nhiều ngân hàng đã âm thầm lách luật bằng các nghiệp vụ như ủy thác đầu tư, mua trái phiếu doanh nghiệp (TPDN).

Vấn đề đặt ra là khi các NHTM đẩy mạnh nghiệp vụ ủy thác đầu tư, mua TPDN như vậy thì các tỷ lệ bảo đảm an toàn có bị ảnh hưởng không, khi mà doanh số của hoạt động này tại một số ngân hàng chiếm tỷ lệ tới 80% so với dư nợ cho vay?

Ngoài quy định về giới hạn cấp tín dụng có tính cả doanh số đầu tư TPDN thì NHNN không có hạn chế nào cho các loại hình này. Việc mua TPDN hay ủy thác (trừ ủy thác cho vay) đều không được coi là hoạt động cấp tín dụng nên quy định về tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động không có tác dụng gì.

Còn đối với việc trích lập dự phòng giảm giá cho các khoản đầu tư TPDN, một trong hai điều kiện để trích lập dự phòng tổn thất đối với các khoản đầu tư TPDN là “được tự do mua bán trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập báo cáo tài chính có giá thị trường giảm so với giá đang hạch toán trên sổ kế toán”. Hầu hết các khoản đầu tư TPDN của các NHTM hiện nay đều không đáp ứng yêu cầu trái phiếu được mua bán tự do trên thị trường, vì vậy cũng không có cơ sở để xác định trái phiếu có giảm giá hay không để trích lập dự phòng.

Có ý kiến cho rằng NHNN sẽ xử lý các NHTM vi phạm quy định về ủy thác đầu tư và mua TPDN. Tuy nhiên, không có cách nào xử lý công khai cả vì NHNN không hề có một quy định cụ thể nào về các khoản đầu tư này.

Cấm các loại hình này, tất nhiên là không thể vì như thế là trái luật; hay quy định một tỷ lệ tối đa so với vốn tự có, hay một tỷ lệ tối đa so với tổng dư nợ tín dụng như cách vẫn đang làm với cho vay chứng khoán và tín dụng phi sản xuất.

Tuy nhiên, điều mấu chốt là NHNN nên xem các khoản đầu tư này có mức độ rủi ro ra sao? Bởi lẽ nếu NHNN cho rằng các khoản đầu tư này có rủi ro thấp, thì không cần phải hạn chế, nếu vì mục tiêu kiềm chế lạm phát thì chỉ cần một quyết định để hạn chế mang tính thời điểm; còn nếu đây là một hoạt động mang tính rủi ro cao thì cần một văn bản pháp quy để kiểm soát lâu dài.

Nhưng đến giờ này NHNN vẫn không cho rằng các khoản đầu tư này có tính rủi ro cao, bằng chứng là trong dự thảo về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD đang được lấy ý kiến để thay thế Thông tư 13, hệ số rủi ro để tính CAR của các khoản này vẫn không thay đổi (50 hoặc 100%).


Nguồn TBKTSG
Cập nhật lần cuối + 04/07/2011 9:28:00 SA
Lượt xem:1449